CHỮ KIẾM TRONG THANH GƯƠM CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
CHỮ KIẾM TRONG THANH GƯƠM CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
Tác giả: Nhạn Nam Phi
Nguồn: Tư liệu nghiên cứu
Nguồn: Tư liệu nghiên cứu
越王鳩淺自乍用劍”(Việt Vương Câu-Tiễn Tự Tác Dụng Kiếm) là 8 chữ đã được chạm-khắc trên thanh Gươm của việt Vương Câu-Tiễn
Kiếm-劍 và Gươm-
Chữ Kiếmvà Gươm giống nhau! Nhân loại cùng 1 gốc; Phát âm “Gươm” cổ xưa hơn, vì có liên quang đến “kim” loại là vàng, mà VÀNG/Kim được thế giới với ngôn ngữ khác gọi là “Gold” / tiếng Anh, Pháp, Ý, Đức; Ginto/ Philipino_Guld / Thủy Điển v v…(Ngôn ngữ dần dần phân nhánh do sự thiên di của nhân loại, Các Phát âm càng cổ xưa của các ngôn ngữ, là càng gần với gốc “khi chưa phân nhánh” thì tự nhiên là giống nhau!). Với tiến bộ của khoa học, ngày nay, người ta cho rằng đường thiên di của nhân loại bắt nguồn từ Châu Phi, Tôi ví dụ, là có 1 từ “Mẹ” đã sinh ra 2 nhánh con rất giống nhau đi về 2 hướng là “Gold” và “Gươm”…Chữ Kiếm ngày nay như thế nầy: 劍-Kiếm.(Ngoài ra, còn 2 chữ “kiếm” khác là : "
kiếm” và “鋏-Kiếm”)
Khoảng 2500 năm trước, và trước nữa thì chữ “Kiếm” lại là chữ “Gươm”! Cho nên, Chữ “Kiếm” trong thanh Gươm của Việt Vương Câu Tiễn lại chính là chữ “
-Gươm”! Và Chữ “Gươm” nầy lại là phù hợp hoàn toàn với cách đọc là “Kiếm”! Bỡi vì nó được ghép lại bỡi chữ “Kim”+ “Kiếm” = Kiếm:
Kim-金: Kim loại, Vàng, (Gold / Anh Ngữ…)
Kiêm-兼: Gấpđôi, kiêm nhiệm ( Thêm ).
“金-Kim” + “兼-Kiêm” =
-Kiếm.
Chữ "
- Chữ“Kiếm” nầy được thể hiện bằng chữ “Thiêm-僉” + “Đao-刀” =“Kiếm-劒” …và Chữ “Đao-刀” lại được đơn giãn hóa thành ra“Đao-刂”, thành ra chữ của ngày nay là :“Kiếm-劍”.
chữ “劒-劍-Kiếm” nầy quá mới! Nó không có, và không thể tìm trong sách “Thuyết Văn” giãi tự thời xưa của 2000 năm trước! 1 số Web site cho rằng “Thuyết Văn Giãi Tự” có ghi ghi như vầy như vầy về “劍-kiếm” vv…, Việc giãi thích như vậy, để giãi thích về chữ “劍-Kiếm”trong 1 phiên bản của sách “Thuyết Văn” do tác giả Đoàn Ngọc Tài/Đời Mản Thanh là khó tin!!! Vì nếu tra cứu thẳng chữ “劍-Kiếm” trong “Thuyết Văn Giãi Tự” của Hứa thận (Và các phiên bản do người khác hiệu đính) là tìm không thấy!
Bản chínhcủa sách “Thuyết Văn” đã mất, nhưng nhờ có nhiều sách khác đã ghi chú, diễn giãi các chữ bằng cách trích dẫn sách “Thuyết Văn”, Cho nên sau nầy người ta đã gôm góp, tổng hợp lại mà tái tạo sách “thuyết văn”, Ít nhất là 4 học giả củacác thời sau nầy đã biên soạn và hiệu đính sách “Thuyết văn”; Và chỉ có “Thuyết văn” giãi tự do Đoàn Ngọc Tài hiệu đính vào thời Mản Thanh thì có ghi chú chữ “劍-Kiếm” nầy! Các bản “Thuyết văn” khác thì không có chữ “劍-Kiếm” nầy để tra cứu .
“Thuyết Văn Giãi Tự” của Đoàn Ngọc Tài đời Mản Thanh ghi“劍-Kiếm”như sau :
[<說文解字>:劍,人所帶兵也。從刀僉聲/ Kiếm, Nhân sở đới binh dã. Tùng Đao thiêm thanh { Kiếm, người đeo nó (là)Lính vậy.}
Phầngiãi thích “劍-Kiếm”của“段玉裁-Đoàn Ngọc Tài” khi hiệu đính sách “Thuyết Văn” nêu trên - có được đưa vào “Khang HyTừ Điễn”.
Nhưng, “Thuyếtvăn Giãi Tự”… xưa hơn (2000 năm trước), không do Đoàn Ngọc Tài Hiệu đính thì chỉcó chữ “鋏-Kiếm” như thế nầy! Ngày nay người ta đọc chữ nầy là : “鋏-Kiệp” ( nghĩa là cái “Kìm gấp”/Kẹp hay “thanh gươm”!!!) Thật ra, đây là chữ “Kiếm” đã được Khuất Nguyên của nước Sở dùng trong thơ của “Sở Từ”:ví dụ…
帶長鋏之陸離兮。――《楚辭·涉江》
Đới trườngkiếm chi lục ly hề. ( Đeo trường kiếm cho đẹp nầy.)- - “Sở Từ-Thiệp Giang”
Nhưng chữ “鋏-Kiếm” nầy vẫn là mới! …Củ hơn, Và xưa hơn là,2500 năm trước thì chữ “kiếm” được chạm khắc trong thanh Gươm của Việt Vương Câu Tiễn lại là chữ "
-Kiếm”khác! Đó lại là chữ “Gươm” của “chữ Nôm”! …chữ Nôm của người Việt-Nam thì chữ nầy được đọc là "
- Gươm"!
***Chúng ta thấy gì khi khảo cứu về chữ “Kiếm” hay “Gươm” ???
Ai nghĩ rằngchữ “Nôm” mới có sau nầy thì xin khảo cứu về chữ "
Gươm”hay “劒-Kiếm”!
Chữ Gươm- | Xem hình: Chữ thứ 4 của hàng bên trái / phía dưới chót: là Chữ “Gươm | |
_ Chữ “Gươm” là Nôm của tiếng Việt Nam, và cũng làchữ Nôm được dùng trong hiện tại, thì tôi phải trình bày theo cách “dán hình”:Gươm=
Thật ra thì phát âm“kiếm” và “Gươm” là như nhau! Gươm là Kiếm, Kiếm là Gươm!
“gươm” đọc thành “kiếm”= Gươm =>“Kươm>Kem>Kiêm>Kiếm”
“Kiếm” đọcthành “gươm”= “Kiếm=>Kiêm>Kem>Kươm>Gươm”
…Chỉ làdo trại âm bỡi giọng đọc Nam bắc và đông tây của 1 vùng địa lý quá rộng mà tạo nên “Gươm” và “kiếm”… Ngoài ra còn có các âm khác tương tự của chữ “kiếm” của tiếng Sở, Ngô, Mân v v…
“Kiếm”-Ngàynay tiếng Mân việt/Triều Châu ( gốc là tiếng Sở) đọc là “Kiem” hay “Kièm” .
“Kiếm” Ngàynay tiếng Việt/ của Tỉnh Quãng Đông đọc là “Kiêm”.
“Kiếm” –Quãng Âm/Thời Đường Và Tống đọc là “Kémm”( gọi là “Quãng âm”-nghĩa là quãng đại quần chúng đọc phát âm nầy vào thời Đường và Tống_ Còn gọi là “Đường Âm”).
_Trường hợp đặc biệt là: Tiếng Quang thoại/BắcKinh ngày nay đọc “Kiếm-劍” là “劍-Chén” – Dùng mẩu tự Anh Văn/English Phiên âm là “Jiàn-劍”- và đọc là “Chén”(“Chén”/Xin đọc theo giọng bắc Hà-Nội)_Cây “kiếm” là thanh gươm bằng kim loại, dùng cho việc “Chém”, tiếng Việt gọi là Cây “Chém-劍” đã được“quốc tế hóa” bỡi các bộ tộc Hung-Nô và đọc là “Chén-劍-Jiàn(Chém)”; Và “Chém” với “Kiếm” rất tương đồng, chỉ là “Ch” biến thành “K” mà thôi! Tiếng Việt Có từ: Chém,chít, châm, chuốt, chọt, chĩa,v v… ! Tiếng Việt có cây “kiếm”, cây Kích, cây kéo và cây kiềm, cây kẹp, cây Cuốc, vv… (Không có ngôn ngữ nào như vậy_hảy sosánh các từ ngữ liên quang rất logic vừa nêu), và đừng tưởng rằng “Kiếm-劍” là tiếng nước ngoài!!!
Khi nói đến 8 chữ được Chạm trong thanh gươm của Việt Vương Câu Tiễn thì người ta phải dùng 8 chữ nầy “越王鳩淺自乍用劍” khi đánh máy : Nếu muốn đánh máy chữ “Gươm hay Kiếm” như đúng chữ đã có trên thanh Gươm-Kiếm đó thì không được! Vì còn thiếu/ còn chưa có Uincode để đánh máy chữ nầy! (Tôi không có chuyên môn để tạo ra Unicode cho Font chữ Đánh máy, mong người khác sẽ làm vậy! Mong lắm thay!).
Kết luận: Qua khảo cứu, thấy được bằng chứng và sự thật-Chữ Nôm là "
Ghi chú:
(*)Điều này không có gì lạ, bởi đúng như nhà văn-tác giả Hà Văn Thùy qua nhiều nghiên cứu đã khẳng định từ lâu rằng:
_“Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán.” Đấylà kết quả của tiến trình lịch sử đích thực đã diễn ra. Vào Trung Nguyên chiếm đất của người Việt, người Hung-Nô/Mông Cổ đã học tiếng nói và chữ viết của ngườiViệt cổ và hòa huyết với người Việt-sinh ra các thế hệ sau và tự xưng là người Hoa Hạ. Sau vài thế hệ, người Hoa Hạ trở thành lớp thống trị xã hội, đã tiếp tục vai trò chính thống của cha ông Mông Cổ, ảnh hưởng của các triều đình và quyền lực xã hội đã đổi văn phạm theo cách nói “phụ trước chính sau” của tộc Mông Cổ,đồng thời chuyển hóa dần tiếng Việt thành tiếng Hoa Hạ và sau thành tiếng Tần,Hán. Sau khoảng 4000 năm bị che khuất, nay là lúc chúng ta khai quật ngôn ngữHán cổ và tìm ra nghìn vạn bằng chứng cho thấy chữ Hán chính là chữ Việt cổ. Cólẽ tới lúc phải làm cuốn Bách Việt đại từ điển để phục nguyên vốn chữ Việt cựckỳ phong phú từng bị vùi lấp.(* nhà văn Hà Văn Thùy/nhà nghiên cứu Dân tộc học,đã xuất bản quyển sách “Hành trình tìm lại cội nguồn-Nghiên cứu và Đối thoại”/nhà xuất bản văn học”.
Đầu Xuân Tân Mảo/2011-Viết tại Sacramento-CA-USA.
Nhạn Nam Phi.
Tham khảo:
-Các link để vào trang của sách “Thuyết văn giãi tự” của các học giả xưa:
· 《说文解字》在线查询 DT-Studios提供,可进行篆文、简体切换。
· 《说文解字注》 全文检索 - 许慎撰 段玉裁注
· 《說文解字》全文檢索測試版 - 许慎撰 徐鉉校订
· 《說文解字》在线查询 - 许慎撰 徐鉉校订
0 comments :